Bệnh Trĩ

các loại bệnh trĩ
PHẠM NGỌC GIẢI RƯỢU
là một phương thuốc vô cùng hiệu quả đối với trĩ nội ra máu
thuốc có hiệu lực ngay cả khi bạn không thể kiên được rượu bia 

Triệu chứng của bệnh trĩ:

 
– Đại tiện ra máu: Nhiều mức độ, có khi vài giọt, có khi thành tia (màu tươi) ngừng chảy khi đi ngoài xong.
– Đau hậu môn: Có thể không đau chỉ cộm, cảm giác khó chịu hoặc vướng, có trường hợp đau thực sự nếu bị tắc tĩnh mạch. Đau làm cho bệnh nhân không ngồi ngay ngắn trên ghế hoặc ngồi một bên mông.
– Sa lồi búi trĩ: Lúc đầu chỉ xuất hiện khi đi ngoài rồi tự co hồi, nhưng sau tái diễn nhiều lần liên tiếp búi trĩ tụt xuống không co lên được.
– Ngứa xuất hiện khó chịu ở ngoài hậu môn do hậu quả của quá trình viêm.
– Thiếu máu: tùy theo mức độ và thời gian chảy máu mà thiếu máu nhiều hay ít.
Biểu hiện bên ngoài: Trĩ sa ra ngoài (sa búi trĩ hoặc sa niêm mạc hâu môn), nội soi trực tràng thấy vùng tổn thương, có hiện tượng tắc mạch, giảm khả năng co thắt cơ vòng hậu môn. Các tổn thương kèm theo bệnh trĩ: Ap xe, dò hoặc nứt hậu môn, ung thư hậu môn trực tràng.

Nguyên nhân của bệnh trĩ:

Y học nghiên cứu một số yếu tố làm xuất hiện bệnh:
– Rối loạn tiêu hóa.
– Tâm sinh lý: Bực bội buồn vui quá mức, lao động trí óc căng thẳng.
– Tuổi càng nhiều càng dễ mắc bệnh trĩ.
– Nghề nghiệp: Ngồi nhiều, đứng nhiều, ít hoạt động, lao động nặng nhọc.
– Khí hậu nhiệt đới: Mưa nhiều, ẩm ướt, thay đổi thời tiết.
– Các bệnh trong hậu môn trực tràng, viêm đại tràng mãn, lỵ amip mãn tính,vv..
– Yếu tố di truyền.
– Ngoài ra còn một số yếu tố khác: Có thai, béo phì, đái tháo đường, lười vận động, chế độ ăn uống không hợp lý…
Phân loại bệnh trĩ: Theo Y học hiện đại bệnh trĩ chia làm 3 loại: trĩ nội, trĩ ngoại và trĩ hỗn hợp.
– Bệnh trĩ ngoại: Bệnh trĩ ngoại đa phần là do phải rặn nhiều khi đại tiện, đại tiện phân khô… Gây nứt các tĩnh mạch viền hậu môn, máu thấm vào trong mô liên kết, gây tụ máu, phát bệnh đột ngột dẫn tới đau dữ dội.
– Bệnh trĩ nội: Do tĩnh mạch trên trực tràng và nhánh của nó không có van tĩnh mạch, khi máu tĩnh mạch chảy từ dưới lên trên thông qua trực tràng chảy về tim, do tư thế đứng thẳng ở người, dưới tác dụng của lực hút trái đất làm dòng chảy này bị chảy ngược xuống, rất dễ làm cho phần hậu môn trực tràng bị tụ máu, sự tích tụ lâu ngày sẽ làm cho hậu môn trực tràng bị căng lên dẫn tới mắc bệnh trĩ.
– Bệnh trĩ hỗn hợp: Trĩ hỗn hợp tức là trên cùng một bệnh nhân xuất hiện cả trĩ nội và trĩ ngoại. Thông thường, khi diễn tiến lâu ngày, phần trĩ nội và phần trĩ ngoại sẽ liên kết với nhau, tạo thành trĩ hỗn hợp. Búi trĩ nội, khi đã sa tới độ 3, thường hiện diện dưới hình thái trĩ hỗn hợp.
Bệnh trĩ tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của người bệnh:
– Chảy máu khi đại tiện kéo dài dai dẳng dẫn đến thiếu máu và suy nhược cơ thể.
– Rối loạn thần kinh và rối loạn chức năng hậu môn.
– Tắc nghẽn búi trĩ cấp, viêm cấp tĩnh mạch gây đau đớn, bí đái. Không vệ sinh vùng bị bệnh gây ra nhiêm trùng và dẫn đến hoại tử.
– Gây các bệnh về da và nhiễm trùng máu: Áp-xe hậu môn một khi hình thành sẽ xuất hiện các trệu chứng như xuất huyết, vi khuẩn, độc tố, mủ. Những độc tố này dần dần xâm nhập vào máu và gây ra nhiễm trùng máu.

Điều trị bệnh trĩ:

Theo y học hiện đại: có rất nhiều phương pháp: Thắt trĩ, tiêm sơ, đốt điện, cắt trĩ theo phương pháp Nilligen, phương pháp Longo, phương pháp Doppler,vvv… Tuy nhiên sau khi phẫu thuật thì có một số biến chứng: Chảy máu, nhiễm trùng, viêm xưng chân trĩ, táo bón, bí tiểu tiện và đại tiện.
Phương pháp dùng thuốc: Uống các thuốc làm tăng sức bền thành mạch (daylon, ginkofor), đặt tại vùng tri giảm đau và chống viêm, uống thuốc kháng sinh…
Theo y học cổ truyền:
Điều trị bảo tồn: Rất nhiều vị thuốc nam có hiệu quả điều trị bệnh trị mà dân gian lưu truyền ngàn đời nay: Rau sam, hoa cà,vv.. Các bài thuốc cổ truyền: Hòe hoa tán, bô trung ích khí, chỉ thống thang …
Điều trị không bảo tồn: Bôi thuốc cho búi trĩ hoại tử và tự rụng đi.
Bài thuốc Nam .  Gồm có thuốc uống và thuốc ngâm.
Thuốc uống: Trầm bồ, huyết giác, ý dĩ, cam thảo, hòe hoa, lá móng tay, mộc hương, đại hoàng, thảo quang minh, hoàng bá, bồ công anh, đào nhân
Thuốc ngâm:
Công dụng: Chỉ thống, tiêu viêm, cầm máu, giảm đau, chống viêm, thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, hoạt huyết, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Giúp bảo vệ và tăng sức bền của thành tĩnh mạch, tăng cường sức khỏe tĩnh mạch và đường tiêu hóa; nhuận tràng thông đại tiện, chống táo bón.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tư Vấn Ngay:0915 939 767